Mùa Xuân Nói Chuyện Đống Đa
Trần Gia Phụng
Cuộc Phỏng Vấn Của Đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại.
Người phỏng vấn : Hồng Phúc.
Người trả lời : Trần Gia Phụng.
Ngày phỏng vấn : Thứ Bảy 12-02-2005.
Ngày phát thanh : Chủ Nhật 13-02-2005
Câu hỏi 1 : Thưa giáo sư, nhân dịp đầu Xuân Ất Dậu, và Chủ Nhật hôm nay lại
rơi đúng vào một ngày lễ lớn của
dân tộc, đó là ngày kỷ niệm Vua Quang Trung
đại thắng quân Thanh tại g̣ Đống Đa, mồng 5 tháng Giêng năm
Kỷ Dậu 1789.
Được biết giáo sư vừa cho xuất bản cuốn "Nhà Tây Sơn", nên chúng tôi xin
giáo sư dành cho
cuộc phỏng vấn ngày hôm nay. Trước hết, xin Gs. vui ḷng
cho nghe sơ lược về bối cảnh lịch sử nước ta lúc bấy giờ
như thế nào?
Trả lời : Kính chào ông Hồng Phúc, kính chào quư vị thính giả nghe đài Tiếng
Nói Việt Nam Hải Ngoại. Trước hết,
tôi xin cảm ơn ông Hồng Phúc lại phỏng vấn
tôi một lần nữa, và phỏng vấn một đề tài liên hệ đến quyển sách tôi vừa
xuất
bản, đó là quyển Nhà Tây Sơn.
Về vấn đề bối cảnh lịch sử trước khi xảy ra trận đánh Việt Hoa năm 1789, th́
phải nói t́nh h́nh nước ta lúc đó
rất phức tạp, đầy bất ổn. Tôi xin kể từ
trong Nam ra đến Bắc, bởi v́ trọng tâm của chúng ta sẽ dừng ở Bắc hà.
Ở trong Nam, chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Ánh tái chiếm Gia Định từ năm 1787.
Đông Định Vương Nguyễn Lữ của nhà Tây Sơn chạy về Quy Nhơn và từ trần ở đây
sau đó không bao lâu. Ở miền Trung, từ B́nh Thuận ra tới Quảng Ngăi thuộc
quyền của Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc đóng đô ở Hoàng Đế Thành, tức
thành
Đồ Bàn ở Quy Nhơn. Từ Quảng Nam ra tới Nghệ An do Bắc B́nh Vương
Nguyễn Huệ cai trị. Tuy Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ là hai anh em ruột, cùng
nhau khởi nghĩa năm 1771, nhưng v́ tranh chấp quyền lợi sau cuộc Bắc tiến
lần đầu năm 1786 của nhà Tây Sơn, hai anh em đem quân đánh nhau năm 1787, và
cuối cùng thỏa thuận chia vùng đất
cai trị như vừa tŕnh bày, và không xen
lấn vào công việc lẫn nhau.
Trong khi đó, t́nh h́nh Bắc hà cũng xáo trộn không kém. Năm 1786, Long
Nhương tướng quân Nguyễn Huệ
dẫn quân Tây Sơn chiếm Thuận Hóa, tiến ra Bắc,
tiêu diệt Trịnh Khải, trả quyền lại cho vua Lê. Khi lực lượng Tây Sơn rút về
Nam, con cháu họ Trịnh lại nổi lên trở lại. Vua Lê lúc bấy giờ là Lê Chiêu
Thống ( trị v́ 1786-1789 ) lại mời
Nguyễn Hữu Chỉnh, người Bắc hà nhưng đă
theo pḥ gia đ́nh Tây Sơn, lúc đó đang ở Nghệ An, ra Thăng Long để dẹp
họ
Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp xong con cháu họ Trịnh, lại chuyên quyền và quay
qua muốn gây hấn với Tây Sơn
ở trong Nam.
Nguyễn Huệ liền cử Vơ Văn Nhậm,
Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra Bắc dẹp Nguyễn Hữu Chỉnh.
Chỉnh bỏ chạy rồi bị
bắt giết. Vua Lê Chiêu Thống cũng bỏ chạy luôn.
Vơ Văn Nhậm đưa chú của
Chiêu Thống là Lê Duy Cận lên làm Giám quốc. Long Nhượng tướng quân Nguyễn
Huệ,
vốn nghi kỵ Vơ Văn Nhậm v́ Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc, lấy cớ Vơ
Văn Nhậm không thận trọng để cho Lê
Chiêu Thống bỏ chạy, đă tự cầm quân ra Thăng Long giết Nhậm, giao quyền thống lĩnh lực lượng Tây Sơn ở Bắc hà
cho
Ngô văn Sở.
Về phần họ Lê, trong lúc Lê Chiêu Thống lẫn trốn ở Bắc hà, th́ mẹ của nhà
vua đem con của nhà vua, vượt ải
Thủy Khẩu, qua Long Châu cầu cứu với nhà
Thanh vào tháng 7 năm mậu thân (1788). Nhà Thanh liền chụp lấy cơ hợi
đem
quân xâm lăng nước ta.
Câu hỏi 2 : Thưa Giáo Sư. lúc đó t́nh h́nh nước Trung Hoa ra sao?
Trả lời : Thưa ông, để hiểu rơ vấn đề hơn, có lẽ cũng cần cần phải nói đến
nước Trung Hoa nữa. Trước hết, từ năm 1644 là năm nhà Thanh chính thức từ
Măn Châu vào cai trị Trung Hoa, cho đến gần cuối thế kỷ 19, nước Trung Hoa
tương đối ḥa b́nh và ổn định. Dân số Trung Hoa gia tăng khá cao. Đất đai
canh tác thiếu; triều đ́nh nhà Thanh phải t́m kiếm thêm đất để di dân. Từ
đó, nhà Thanh gởi quân đi xâm lấn các lân bang, mở rộng biên giới.
Thứ hai, vua Trung Hoa lúc đó là Thanh Cao Tông ( trị v́ 1736-1795 ), tức Càn
Long (Ch'ien-lung). Càn Long là vị vua
đầy tham vọng đế quốc. Ông gởi quân
mở rộng biên cương phía bắc và phía tây, rất tự hào rằng ông đă lập được
nhiều
chiến công lẫy lừng. Gần nhất, vào năm 1787, Thanh Càn Long cử Phúc
Khang An đem quân chiếm Đài Loan.
Sau Đài Loan, Càn Long nh́n xuống Đại Việt
và Đông nam Á, và chờ đợi thời cơ tiến chiếm vùng nầy.
Thứ ba, năm 1790, Càn Long sẽ làm lễ " bát tuần khánh thọ " ( mừng 80 tuổi ).
Ông muốn t́m kiếm một chiến công ở ngoài biên cương để tăng thêm hào quang
rực rỡ của triều đại ông.
Do những lẽ đó, việc bà mẫu hậu, mẹ của vua Lê Chiêu Thống chạy sang cầu
viện là cơ hội tốt cho vua Càn Long
thực hiện tham vọng bành trướng bá quyền
của ông. Ông liền chụp lấy cơ hội, quyết định cử Tôn Sĩ Nghị lănh đạo quân
đội bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ( tức Lưỡng Quảng ), Vân Nam và Quư Châu
( tức Vân Quư ) tiến đánh
nước Việt, dưới chiêu bài mà các chỉ dụ của Càn Long
thường nhắc đến là " vỗ về nước nhỏ, nối ḍng kế vị đă mất ".
Vua Càn Long c̣n chuẩn bị cả việc đánh chiếm luôn xuống địa bàn của nhà Tây
Sơn từ Thuận Hóa trở vào Nam. Trong chỉ dụ ngày 12 tháng 10 năm mậu thân
(1788), Càn Long cho rằng vùng nầy vốn là đất của Chiêm Thành, và
"đất của
Chiêm Thành trả lại cho Chiêm Thành càng danh chính ngôn thuận..." Trả lại
đất cho Chiêm Thành chỉ là cái cớ
bề ngoài để mở cuộc hành quân về phía nam,
chiếm trọn nước ta. Trong chỉ dụ ngày 19 tháng 12 cùng năm, Càn Long
ra
lệnh: " Theo trẫm, Tôn Sĩ Nghị nên tiến một đoạn, Ô Đại Kinh cũng mang binh
tiến về hướng Quảng Nam..."
Càn Long c̣n lo ngại Xiêm La ( Thái Lan ngày nay )
sẽ phỗng tay trước, chiếm Đàng Trong, rồi sau đó tiến đánh
Đàng Ngoài.
Những chỉ dụ của Càn Long được ghi lại trong chính sử Trung Hoa cho thấy rơ
ràng Càn Long âm mưu xâm chiếm
nước ta để tiến xuống Đông nam Á. Nói cho
cùng, tất cả các nhà cầm quyền Trung Hoa đều nuôi tham vọng
bành trướng và
họ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội xâm lăng. Đó là bức tranh tổng quát làm bối
cảnh cho cuộc chiến tranh
Việt Hoa năm 1789.
Câu hỏi 3 : Thưa Giáo sư. vua Quang Trung nổi tiếng là một nhà quân sự có phép
hành quân thần tốc, xin Gs. cho nghe về chiến lược tiến đánh Bắc Hà của vua
Quang Trung được chuẩn bị ra sao ? Diễn tiến trận đánh như thế nào?
Trả lời : Qua những trận đánh của Nguyễn Huệ ở trong Nam và qua cuộc hành
quân Bắc tiến diệt Trịnh năm 1786,
điểm đặc biệt trong chiến thuật hành quân
của Nguyễn Huệ là bất ngờ và thần tốc. Trong cuộc chiến năm 1789, mà
dân
chúng thường hay gọi là chiến thắng Đống Đa, vua Quang Trung cũng thế.
Theo nhật kư của Giáo hội Thiên Chúa giáo Bắc kỳ về những sự kiện đáng ghi
nhớ xảy ra trong địa phận giáo hội
từ tháng 10-1788 đến tháng 7-1789, th́
dân chúng ngoài Bắc biết tin quân Măn Thanh sẽ xâm lăng Đại Việt từ tháng
10-1788. Ngay lúc đó, chắc chắn Ngô Văn Sở biết tin nầy, và chắc chắn Bắc
B́nh Vương Nguyễn Huệ cũng biết tin nầy. Đây là cơ hội thuận tiện để Nguyễn
Huệ thực hiện ư định lên ngôi vua, mà ông đă để lộ sau vụ bắt giết Vơ Văn
Nhậm ở Thăng Long từ đầu năm mậu thân (1788). Sau hơn một tháng chuẩn bị
triều nghi, sắp đặt việc bảo vệ Phú Xuân,
Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang ngày
25 tháng 11 (22-12-1788), rồi kéo quân bắc tiến.
Di chuyển trong bốn ngày, Tây Sơn dừng quân tại Nghệ An ngày 29 tháng 11 (âm
lịch). Tại đây, vua Quang Trung
đă mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đến hội
kiến. Trong cuộc gặp gỡ, nhà vua bàn luận với Nguyễn Thiếp kế hoạch
hành
quân. Nguyễn Thiếp nói: "Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết t́nh
h́nh khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ
thế nào. Và nó có bụng khinh địch.
Nếu đánh gấp đi th́ không ngoài 10 ngày sẽ phá tan. Nếu tŕ hoăn một chút
th́ khó
ḷng mà được nó."
Lời bàn của Nguyễn Thiếp rất hợp ư với vua Quang Trung. Lo việc tuyển quân
mười ngày ở Nghệ An và Thanh Hóa,
vua Quang Trung lại tiếp tục dẫn quân ra
đi ngày mồng 10 tháng chạp (5-1-1789). Ngày 20 tháng chạp (15-1-1789),
nhà
vua đến Tam Điệp. Nơi đây, lực lượng Tây Sơn ở Bắc hà do đại tư mă Ngô Văn
Sở chỉ huy đang đợi nhà vua.
Ở lại Nghệ An và Thanh Hóa mười ngày, nghỉ ngơi
tại Tam Điệp cũng mười ngày, vua Quang Trung lại mở cuộc tấn công
ào ạt gấp
rút trong sáu ngày sau là thanh toán chiến trường.
Câu hởi 4 : Xin Gs. cho nghe chi tiết diễn tiến của cuộc chiến như thế nào?
Trả lời : Thưa ông, ngày 30 tháng chạp (25-1-1789), tại Tam Điệp, vua Quang
Trung cho mở tiệc khao quân, tuyên bố
ăn Tết trước khi lên đường, hẹn ngày
mồng 7 năm mới, sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc mừng chiến thắng.
Tối hôm đó (30 Tết), quân Tây Sơn vượt sông Giản ở Ninh B́nh. Đến Sơn Nam,
trấn thủ Hoàng Phùng Nghĩa,
tướng của vua Lê Chiêu Thống, bỏ chạy. Các toán
thám tử của quân Thanh đều bị quân Tây Sơn chận bắt giết sạch,
nên tin tức
không lọt về Thăng Long.
Không nghỉ ngơi, vua Quang Trung thúc quân tiếp đến Hà Đông. Đêm mồng 3 Tết
Kỷ Dậu (28-1-1789), nhà vua
cho quân vây kín đồn Hà Hồi ( huyện Thường Phúc,
Hà Đông ), rồi ra lệnh các tướng đặt loa hô lớn; quân sĩ đồng thanh
đáp ứng
vang trời, làm cho quân trong thành nghe lớn tiếng, sợ hăi xin hàng.
Sau Hà Hồi, lực lượng Tây Sơn đến Ngọc Hồi (huyện Thanh Tŕ) sáng sớm mồng 5
Tết (30-1-1789). Đây là pḥng tuyến chính của quân Thanh để bảo vệ Thăng
Long. Vua Quang Trung biết quân Thanh pḥng thủ ở đây khá kiên cố,
trên
thành có đại bác và chung quanh thành có địa lôi (ḿn = landmine) bảo vệ.
Câu hỏi 5 : Thưa Gs hồi đó mà cũng đă có địa lôi rồi sao?
Trả lời : Thưa vâng, người Việt cũng như người Trung Hoa đều đă phát kiến
chất nổ từ rất sớm. Về phía người Việt, năm 1390, quân của nhà Trần đă dùng
súng bắn hạ Chế Bồng Nga, một vị vua anh hùng của Chiêm Thành.
Chẳng những
thế, ông Hồ Nguyên Trừng, con của Hồ Quư Lư đă chế súng thần công vào đầu
thế kỷ 15.
V́ vậy,
khi chiếm nước ta năm 1407, người Minh đưa gia đ́nh Hồ
Quư Ly về Trung Hoa chứ không giết, và theo tác giả
Lê Quư Đôn, Hồ Nguyên
Trừng được nhà Minh phong làm thượng thư để chế súng thần công cho nhà Minh.
Có chất nổ th́ sáng chế được địa lôi đâu có khó khăn ǵ thưa ông.
Câu hỏi 6 : Rồi vua Quang Trung đối phó ra sao?
Thưa ông, thưa quư vị thính giả nghe đài, nhà vua sắp đặt cách tấn công như
sau : Đi đầu là tượng binh gồm 100 thớt voi to khỏe (theo Cao Tông thực lục),
trong đó có một số voi trang bị súng thần công (theo Thánh vũ kư), vừa bộ
chiến tấn công, vừa phá thế trận địa lôi bao quanh thành Ngọc Hồi, vừa dùng
súng phá thành. Sau tượng binh là toán cảm tử xung phong.
Theo Hoàng Lê nhất
thống chí, vua Quang Trung cho lấy 60 tấm ván, ghép ba tấm thành một bức
lớn, bện rơm (ngọn cây lúa bị cắt khi gặt) thấm nước bao bọc ở ngoài, 10
người khiêng một bức, tất cả có 20 bức đi trước.
Tiếp theo mỗi bức ván lớn
làm mộc che là 20 quân sĩ mang đầy đủ vũ khí, dàn hàng ngang tiến tới.
Theo
Cao Tông
thực lục, vua Quang Trung không dùng ván, mà dùng rạ (thân cây lúa
c̣n lại sau khi gặt), bó thành bó tṛn lớn làm mộc,
lăn chạy trước, theo sau
là khinh binh tấn công rất dũng mănh.
Cuộc tấn công đồn Ngọc Hồi khai diễn sáng sớm mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-1789).
Trong thành, quân Thanh bắn súng ra dữ dội, nhưng quân Tây Sơn nhất quyết
thúc voi tiến tới, dùng súng đại bác phá hủy thành. Kỵ binh của quân Thanh
tiến ra khỏi thành gặp tượng binh của Tây Sơn, liền hoảng sợ bỏ chạy. Thành
bị phá, quân Tây Sơn tràn vào thành đánh cận chiến.
Quân Tây Sơn rất thiện
nghệ về cận chiến ( vơ B́nh Định ), chia quân Thanh thành từng toán nhỏ, rồi
tiêu diệt. Quân Thanh chết rất nhiều. Số quân Thanh bỏ chạy bị chính địa lôi
của họ nổ làm cho thiệt mạng. Những kẻ thoát được, lại bị cánh quân Tây Sơn
do đô đốc Bảo chỉ huy, từ hướng Đại Áng tiến lên đánh đuổi tiếp.
Dưới đây là h́nh ảnh vua Quang Trung trong trận chiến Ngọc Hồi ngày mồng 5
tháng giêng năm kỷ dậu do một người Tây phương lúc đó chạy loạn v́ chiến
cuộc, chứng kiến và kể lại :
" Ngày 30-1 [ mồng 5 tháng giêng âm lịch ], Quang Trung rời Kẻ Vôi
( Hà Hồi )
trên lưng voi và đến chung sức, khuyến khích đội ngũ ông, nhưng khi thấy họ
chiến đấu không hăng hái lắm, ông liền bỏ voi và dùng ngựa. Theo lời đồn,
ông đeo hai cái đoản đao ( gươm ) và chạy ngang dọc chém rơi đầu nhiều sĩ quan
và binh lính Trung Hoa làm rất nhiều người chết về tay ông. Ông luôn mồm hô
xung phong và lúc nào cũng ở trận tuyến đầu."
Câu hỏi 7 : Sau đó th́ sao, thưa Gs?
Trả lời : Thưa ông, sau khi hạ đồn Ngọc Hồi, quân Tây Sơn tiếp đánh các đồn
quân Thanh ở Văn Điển (Thanh Tŕ, Thường Tín, Hà Đông), Yên Quyết (ngoại
thành Hà Nội). Quân Thanh thiệt hại nặng, đề đốc Hứa Thế Hanh, tổng binh
Trương Triều Long, Thượng Duy Thanh đều tử trận.
Ngoài ra, một cánh quân Tây Sơn khác đến vây Sầm Nghi Đống tại Loa Sơn ( g̣
Đống Đa ) ở Khương Thượng ( ngoại ô Thăng Long ). Sau một hồi chống cự quyết
liệt, thế quân Thanh yếu dần, lại không được tiếp ứng,
Sầm Nghi Đống biết
không có cách ǵ thoát thân, liền thắt cổ tự tử trên cây đa. Binh sĩ dưới
quyền Sầm Nghi Đống đều
tử trận. Người ta ước lượng số quân Thanh chết trong
trận đánh nầy khoảng hơn 1,000 người.
Trong khi đó, được tin đồn Ngọc Hồi thất thủ sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Tôn Sĩ
Nghị sai lănh binh Quảng Tây
là Thang Hùng Nghiệp cùng Phan Khải Đức (người
Việt, trấn thủ Lạng Sơn về hàng quân Thanh) đi quan sát t́nh h́nh.
Liền trưa hôm đó, quân Tây Sơn xuất hiện tại Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị không
kịp mặc giáp và thắng yên cương,
đă vội lên ngựa bỏ trốn cùng vài kỵ binh,
bỏ lại lại ấn quân, sắc thư, cờ tiết... Sau khi qua khỏi cầu nổi Thăng
Long,
Tôn Sĩ Nghị ra lệnh chặt đứt cầu nổi, bỏ chạy về hướng Kinh Bắc ( Bắc
Ninh và Bắc Giang ). Số người chết đuối nhiều
không thể đếm hết được. Ở đây
có tài liệu viết rằng cầu nổi bị đứt, nhưng tôi theo tài liệu của sử nhà
Thanh viết rằng
chính Tôn Sĩ Nghị đă ra lệnh chặt đứt cầu phao.
Lê Chiêu Thống, lúc bấy giờ có mặt trong doanh trại Tôn Sĩ Nghị, liền chạy
theo họ Tôn, chỉ kịp sai người về cung
hộ vệ thái hậu cùng hoàng tử vượt
sông. Em vua là Lê Duy Chỉ đưa hoàng phi và cung tần đến bến sông th́ cầu đă
bị
chặt đứt, không qua sông được, phải bỏ trốn về hướng tây.
Tướng Ô Đại Kinh, tiến quân từ Vân Nam vào Đại Việt, đóng bản doanh ở Phú
Thọ ( lúc đó thuộc Sơn Tây ),
được tin Tôn Sĩ Nghị thất trận, đă nhờ một cựu
quan nhà Lê tên là Hoàng Văn Thông hướng dẫn rút lui trở về lại
Vân Nam.
Câu hỏi 8 : Thưa Gs., voi là thú rừng, không quen nghe tiếng nổ, vậy khi ra
trận nghe tiếng đại bác ngay bên tai, chúng chạy rối loạn trận tuyến lên th́
sao?
Trả lời : Thưa ông Hồng Phúc, thưa quư thính giả nghe đài, câu hỏi nầy rất lư
thú. Khi tôi đọc được tài liệu về việc vua Quang Trung đặt súng thần công
trên lưng voi để đánh trận Ngọc Hồi, tôi cũng lấy làm lạ và không hiểu cách
sử dụng voi chở súng như thế nào, nên tôi có hỏi nhiều cựu sĩ quan trong
quân đội chúng ta trước năm 1975, là những người có kinh nghiệm chiến trận.
Phản ứng đầu tiên của các bậc niên trưởng là hỏi tôi thật sự có tài liệu đó
hay không? Tôi không ngạc nhiên về câu hỏi nầy, v́ chính tôi là người học
sử, mà tôi cũng mới biết điều nầy và tôi thấy đây là lần đầu tiên và lần duy
nhất trong Việt sử nghe nói đến việc đặt đại bác trên lưng voi để tấn công.
Tôi xác quyết với các bậc niên trưởng rằng tôi đọc điều đó trong Thánh vũ kư
của tác giả đời nhà Thanh là Ngụy Nguyên, được giáo sư Hoàng Xuân Hăn dịch
lại đăng trong sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn (tập 2, tr. 1344). Tôi c̣n
thêm rằng người Thanh không dại ǵ mà đi khen vua Quang Trung, nhưng họ viết
như thế th́ phải có thật. Tôi không biết đây là sáng kiến của vua Quang
Trung, hay vua Quang Trung học được của ai ?
Vấn đề thứ hai các bậc niên
trưởng hỏi thêm tôi rằng khi bắn, tiếng nổ, chớp lửa của đại bác sẽ làm cho
voi sợ, và voi sẽ lồng lên làm rối loạn đội ngũ th́ sao? Thật sự tôi cũng
không biết, v́ sách Thánh vũ kư chỉ nói thế, chứ không viết ǵ hơn. Do đó,
tôi suy đoán rằng có thể các ông quản tượng, tức là những người huấn luyện
và điều khiển voi, có thể lấy giẻ nhét vào tai voi để làm giảm tiếng động,
và che mắt voi, cho voi khỏi thấy ánh lửa,
giống như che mắt ngựa khi đi vào chỗ đám cháy.
May mắn là trong tháng 6 vừa qua, tôi có việc qua California. Tôi gặp được
tiến sĩ Nguyễn Duy Chính, ở Đại học Irvine, hiện đang nghiên cứu về vua
Quang Trung. Tôi đem vấn đề của Thánh vũ kư đă viết, ra bàn với anh Chính.
Anh Chính cho tôi mượn hai quyển sách bằng Anh ngữ về vấn đề chiến tranh của
Miến Điện và Xiêm La tức Thái Lan. Đó là sách của Amranand, Ping and
William, Warren: The Elephant in Thai Life & Legend [Voi Thái Lan : đời sống
và truyền thuyết], Bangkok, Thailand : Moonsoon Editions Ltd. Partnership,
1998 và sách của Ian Heath, Armies of the Nineteenth
Century : Asia (vol. IV:
Burma and Indo-China) [Quân đội thời thế kỷ 19 : Á Châu (tập IV về Miến Điện
và Ấn Hoa)], Nottingham, Great Britain: Foundry Books, 2003.
Hai sách nầy cho biết người Miến và người Xiêm tức người Thái đă dùng voi
chở đại bác để tấn công trong cuộc chiến dai dẳng giữa hai nước nầy. Khi ra
trận, đại bác loại nhỏ được đặt ngược trên lưng voi, mũi súng về phía đuôi
voi. Mỗi lần bắn, quay ngược con voi, đuôi voi về phía mục tiêu, rồi bắn,
như thế sẽ tránh tiếng nổ và ánh chớp lửa trước đầu voi. Trong hai sách nầy
có cả h́nh voi có đại bác trên lưng, mũi súng quay về phía đuôi voi.
Như thế, vua Quang Trung, xuất thân từ miền rừng núi Tây Sơn, vốn thiện nghệ
về voi trận, có thể đă học được cách phối hợp giữa voi và đại bác hoặc từ
người Xiêm mà ông đă bắt làm tù binh sau trận đánh tan tành đoàn quân Xiêm
do Nguyễn Phúc Ánh cầu viện năm 1874 tại Rạch Gầm và Xoài Mút, hoặc từ người
Lào thường qua lại buôn bán với người Chiêm Thành, v́ người Lào thường liên
lạc với người Miến và người Xiêm, hoặc từ người Chiêm Thành, vốn có nhiều ở
vùng rừng núi Tây Sơn, Quy Nhơn, nơi có thành Đồ Bàn là đế đô của Chiêm
Thành.
Dù học được từ đâu, sáng kiến táo bạo đưa voi chở đại bác để xông trận, công
phá thành tŕ đối phương để cuối cùng chiến thắng vẻ vang, th́ thật là tài
t́nh. Đây là một bất ngờ đối với cả quân Thanh. Trong " Tám điều quân luật "
mà Tôn Sĩ Nghị đă ban hành trước khi xuất quân, Tôn Sĩ Nghị đă báo động rằng
lực lượng Tây Sơn rất thiện nghệ về voi trận, và ông đă dạy cho lính Thanh
biết cách chống lại voi trận, nhưng không thấy ông đề cập đến chuyện Tây Sơn
đặt súng trên lưng voi để xông trận.
Ông Hồng Phúc thấy không, kho tàng sử học của chúng ta c̣n chứa biết bao
nhiêu bí ẩn thú vị mà chúng ta chưa khám phá hết mà thôi.
Câu hỏi 9 : Thưa Gs., chúng tôi có đọc được một tài liệu nói rằng trận Đống
Đa không phải là một trận lớn, chẳng qua là v́ ḷng tự hào dân tộc mà chúng
ta thổi phồng chiến công này của vua Quang Trung lên mà thôi. Giáo sư nghĩ
sao về lời b́nh phẩm này?
Trả lời : Thưa ông Hồng Phúc, ông không nêu tên tài liệu đó ra, nhưng tôi
cũng đoán được tài liệu nầy rồi, v́ tài liệu nầy đă một thời gây dư luận xôn
xao. Ở đây tôi chỉ xin nhắc lại điều tôi đă thưa với ông khi ông phỏng vấn
tôi lần trước, rằng người viết sử là người cố gắng tŕnh bày lại quá khứ như
nó đă xảy ra.
C̣n sử dụng quá khứ đó, tức sử dụng tài liệu sử học vào những
công việc ǵ, th́ tùy vào mục đích của từng người. Ví dụ nhà giáo dục sử
dụng sử học để hướng dẫn, giáo dục ḷng yêu nước cho các thế hệ trẻ. Những
người làm chính trị sử dụng sử học để tranh đấu và biện minh cho lư tưởng
của ḿnh.
Tác giả của tài liệu mà ông đề cập đến là một nhà chính trị. Mà đă là nhà
chính trị, th́ người ta sử dụng lịch sử theo ư của họ để phục vụ cho ư đồ
chính trị của họ. Tôi xin miễn đề cập ở đây. Tôi chỉ xin trở lại ư nghĩa
đích thực của chiến thắng Đống Đa năm 1789.
Muốn thấy rơ ư nghĩa và giá trị chiến thắng Đống Đa năm 1789, chúng ta phải
đặt chiến thắng nầy trong bối cảnh lịch sử mà nó đă xảy ra. V́ vậy, khi mở
đầu, tôi hơi dài ḍng về bối cảnh lịch sử Trung Hoa. Tất cả các nhà cầm
quyền Trung Hoa, kể cả các nhà cầm quyền hiện nay của Cộng Ḥa Nhân Dân
Trung Hoa, đều nuôi tham vọng bá quyền ở Đông Nam Á. Họ vẽ bản đồ Trung Hoa
bao gồm cả Việt Nam và một số nước ĐNÁ.
Qua đài phát thanh, chúng ta không
thể xem bản đồ, nhưng chỉ cần nghe cách họ đặt các địa danh cũng biết tham
vọng của họ. Ví dụ Biển Đông của chúng ta, th́ họ gọi là Nam Hải. Ví dụ quần
đảo Indonesia, th́ họ gọi là quần đảo Nam Dương. Nam Hải và Nam Dương là
biển nhỏ và biển lớn ở phía nam của Trung Hoa, tức là kín đáo ghi nhận rằng
vùng nầy thuộc Trung Hoa.
Trở lại vấn đế năm 1789, như tôi đă thưa trên đây, theo tài liệu trong bộ
Cao Tông thực lục, một bộ chính sử đời Thanh, chép việc đời vua Thanh Cao
Tông tức Thanh Càn Long, th́ vua Càn Long có ư định đánh tràn xuống Đàng
Trong, tức miền Nam Đại Việt để tranh giành ảnh hưởng với Xiêm La. Dĩ nhiên,
nếu nhà Thanh nuốt được Đại Việt th́ chắc chắn họ không dừng tại đó.
Do đó,
vua Quang Trung chiến thắng nhà Thanh năm 1789 cũng giống như nhà Trần chiến
thắng nhà Nguyên vào thế kỷ 13, và Lê Lợi chiến thắng nhà Minh vào thế kỷ
15, vừa để bảo vệ độc lập dân tộc Việt chúng ta, vừa đánh tan giấc mộng xâm
lăng và bành trướng của những nhà lănh đạo Bắc phương.
Đó là giá trị và ư nghĩa đích thực của chiến thắng Đống Đa năm 1789, thưa
ông Hồng Phúc và thưa quư vị thính giả nghe đài.
Câu hỏi 10 : Thưa Gs., về con số "20 vạn" tức 200 ngàn quân Thanh bị vua
Quang Trung đánh tan, là một con số khá cao, và lịch sử vẫn c̣n nhiều tranh
luận, chưa có sự đồng thuận nào trên văn tự. Theo giáo sư, con số xác thực
là bao nhiêu?
Trả lời : Thưa ông Hồng Phúc, để biết về số lượng quân Thanh vào Đại Việt,
chúng ta nên đi vào một số chi tiết khá rườm rà.
Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quân Thanh vào nước ta
bằng ba đường: thứ nhất từ Quảng Tây xuống Nam Quan do Tôn Sĩ Nghị và Hứa
Thế Hanh lănh đạo, thứ nh́ từ Điền Châu qua Cao Bằng do Sầm Nghi Đống chỉ
huy, và thứ ba từ Vân Nam và Quư Câu qua Tuyên Quang do đề đốc Vân Nam là Ô
Đại Kinh dẫn đầu. Tuy nhiên, cánh quân của Sầm Nghi Đống chỉ là một phần nhỏ
của cánh quân Tôn Sĩ Nghị, nên thực sự chỉ có hai đường chính như Hoàng Lê
nhất thống chí viết.
Theo bài "Càn Long chinh vũ An Nam kư" trong sách Thánh vũ kư của Ngụy
Nguyên (Wei Yuan, 1794-1857) đề tựa năm 1842, th́ quân Trung Hoa vào Đại
Việt bằng ba hướng: thứ nhất là từ Quảng Tây qua ải Nam Quan, thứ nh́ là từ
Khâm Châu (Quảng Đông) đi đường biển xuống Hải Đông (Hải Dương), và thứ ba
là đường từ Mông Tự (Vân Nam) qua Tuyên Quang. Như thế, ngoài hai đường bộ
từ Quảng Tây và từ Vân Nam đánh qua, nhà Thanh c̣n điều động thêm lực lượng
đường thủy.
Ở đây có một điểm cần thêm là theo một sắc thư của vua Càn Long nhà Thanh
gởi cho Tôn Sĩ Nghị, mà viên tướng nầy đă bỏ lại khi trốn chạy, th́ vua
Thanh khuyên Tôn Sĩ Nghị nên tiến quân có kế hoạch từ từ : ".. đợi khi nào thủy
quân ở Mân [Phúc Kiến], Quảng [Quảng Đông] đi đường bể sang đánh mặt Thuận
Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch
thế tất phải chịu."
Điều nầy chứng tỏ nhà Thanh không phải chỉ dùng đường
thủy đổ quân ở Hải Dương mà c̣n dự tính dùng đường thủy đánh bọc hậu xuống
Quảng Nam, rồi tiến ngược trở lên.
Ở đây chúng ta chỉ bàn đến hai đường tiến quân chính của Tôn Sĩ Nghị và của Ô Đại Kinh, dựa trên ba nguồn tài liệu chính: đó là tài liệu Trung Hoa, tài
liệu Việt Nam và tài liệu của các người Tây phương.
Theo Cao Tông thực lục, cánh quân Lưỡng Quảng do Tôn Sĩ Nghị trực tiếp điều
động là một vạn người (10,000). Số quân nầy chia thành hai khi đến Lạng Sơn.
Hai ngàn (2,000) người ở lại Lạng Sơn, c̣n 8,000 người tiếp tục tiến đánh
Thăng Long. Trong sách Thánh vũ kư, Ngụy Nguyên cũng chép lại như thế. Cũng
theo Cao Tông thực lục, ở phía tây, đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh đem 5,000
quân qua đường Tuyên Quang.
Như thế, theo chính sử Trung Hoa, tổng số quân
Thanh cả hai cánh là 15,000 người. Tài liệu nầy không nhắc đến số quân do
Sầm Nghi Đống ở Điền Châu lănh đạo, mà các tài liệu Trung Hoa không biết đi
khi nào và bao nhiêu quân. Ngoài ra, trong cuộc viễn chinh lần nầy của nhà
Thanh, Tôn Vĩnh Thanh chỉ huy đoàn tiếp liệu chuyển vận lương thực cũng rất
đông đảo, có thể khoảng 10,000 người.
Đáng chú ư là trước đó, trong cuộc viễn chinh ở phía tây tỉnh Tứ Xuyên
(Trung Hoa) vào năm 1776, Càn Long đă đưa tám vạn quân để đánh hai bộ lạc
chỉ có khoảng 150,000 dân. Vua Thanh biết Đại Việt đông dân hơn nhiều, nên
không thể chỉ gởi hơn một vạn quân mà thôi.
Sách Hoàng Lê nhất thống chí, hồi thứ 13, tóm tắt đại lược hịch của Tôn Sĩ
Nghị, có viết rằng họ Tôn: "điều động năm mươi vạn quân thẳng tới La thành
[Thăng Long]..." Năm mươi vạn nghĩa là 500,000 quân. Con số nầy lớn quá, do
người Thanh tuyên truyền kể thêm, để binh sĩ hăng hái ra đi.
Trong "Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa" của vua Quang Trung, do
Ngô Thời Nhậm soạn có đoạn viết: "Trẫm ứng mệnh trời, thuận ḷng người, nhân
thời thế làm việc cách mệnh, dùng binh lính b́nh định thiên hạ. Viên Tổng
đốc Tôn Sĩ Nghị các người, tài đong đấu ra, nghề mọn thêu may, không biết
những điều chủ yếu trong việc dùng binh, vô cớ đem 29 vạn quân ra khỏi cửa
quan, vượt núi trèo đèo, vào sâu hiểm địa, xua lũ dân vô tội các ngươi vào
ṿng mũi tên ngọn giáo. Đó đều là tội của viên Tổng đốc nhà các ngươi."
Con số hai mươi chín vạn viết trên đây tuy do Ngô Thời Nhậm, người trong
cuộc, đưa ra trong một văn thư có tính tuyên truyền, th́ cũng chưa hẳn sát
với thực tế. Có tài liệu th́ viết rằng lực lượng quân Thanh xâm lăng Đại
Việt lên khoảng hai mươi vạn tức 200,000 quân.
Cả hai số liệu nầy về hai phía Việt (quá nhiều) cũng như Trung Hoa (quá ít)
đều cần phải cẩn án lại. Theo tâm lư thông thường, do tinh thần yêu nước, sử
liệu Trung Hoa thường hạ số liệu quân đội viễn chinh xuống, để khi chiến
thắng th́ chiến thắng có giá trị, v́ đem ít người mà vẫn thắng trận, c̣n khi
thất bại th́ thất bại không đáng kể, v́ đem ít quân nên mới thất bại. Điều
nầy có thể thấy rơ trong Cao Tông thực lục, là bộ chính sử nhà Thanh, chép
thời vua Càn Long.
Ngoài ra, lính Trung Hoa thường đem theo vợ con và nhiều trợ thủ.
Trong " Tám
điều quân luật " trước khi quân Thanh xuất chinh năm 1788, Tôn Sĩ Nghị đă
thông báo như sau trong điều thứ 8: " Lần nầy hành quân xa xôi qua biên ải,
triều đ́nh thương đến binh lính, đă chu cấp rộng ra ngoài thể lệ, mỗi người
lính được cấp một tên phu. Các viên coi quân cần hiểu dụ trước cho mọi người
biết..."
Như thế, nếu e ngại số liệu 200,000 quân Thanh bị thổi phồng th́ chắc chắn
số liệu của Cao Tông thực lục gồm 10,000 của Tôn Sĩ Nghị và 5,000 của Ô Đại
Kinh vừa thiếu sót vừa bị giảm thiểu,và giảm thiểu đến mức độ nào th́ không
có cơ sở để xác minh, nhưng với dân số đông đúc của Lưỡng Quảng, th́ chắc
chắn đạo quân nầy phải đông hơn rất nhiều.
Nếu theo chính sử nhà Thanh, hai cánh quân của Tôn Sĩ Nghị và Ô Đại Kinh
sang Đại Việt tối thiểu cộng lại là 15,000 người; và nếu mỗi quân nhân được
quyền đem theo một người phu (điều thứ 8 của quân luật Tôn Sĩ Nghị), th́ số
người Thanh qua Đại Việt tối thiểu là 30,000. Cần chú ư là các tướng lănh và
sĩ quan Thanh chắc chắn mỗi người đem theo hơn một người phu. Ngoài ra, c̣n
có đoàn quân tiếp liệu của Tôn Vĩ Thanh. Đoàn nầy không thể dưới 10,000
người.30 Ba số liệu nầy cộng lại đă được 40,000 người. Đây là con số tối
thiểu, mà thực tế phải cao hơn nữa.
Câu hỏi 11 : Thưa Gs. sử sách có nói rơ lư do v́ sao đạo quân của Ô Đại Kinh
từ Vân Nam qua đến Tuyên Quang, Phú Thọ rồi dừng ở đó mà không thẳng tiến
đến Thăng Long ?
Trả lời : Có một điểm cần phải nhấn mạnh, là các bộ sử Việt cũng như sử Hoa
trước đây, đều viết rằng quân Ô Đại Kinh từ Vân Nam vào Tuyên Quang, đến Phú
Thọ và chưa đến Thăng Long cũng như chưa tham chiến. Thật ra, theo những báo
cáo của Ô Đại Kinh và Tôn Sĩ Nghị gởi về triều đ́nh Trung Hoa được ghi lại
trong Cao Tông thực lục, th́ hai cánh quân nầy đă gặp nhau tại Thăng Long
vào ngày 21-11, ngay sau khi Tôn Sĩ Nghị chiếm được Thăng Long.
Tiến quân chiếm đất từ biên giới phía tây đến tận Thăng Long th́ rơ ràng đạo
quân Vân Quư của Ô Đại Kinh đă tham gia chiến trường nước ta. Hơn nữa, khi
phác thảo kế hoạch tấn công Nguyễn Huệ, Ô Đại Kinh được phân công tiếp tục
tiến thẳng xuống đánh Quảng Nam.
Câu hỏi 12 : Thế Gs có t́m thêm trong các tài liệu Tây phương hay không?
Trả lời : Thưa ông có ạ. Nguồn tài liệu thứ ba về chiến tranh Việt Hoa năm
1789 do người Tây phương có mặt ở nước ta đưa ra. Các tài liệu nầy cũng đưa
ra những con số khác nhau :
Tài liệu Tây phương thứ nhất là nhật kư của Hội Truyền giáo ở Bắc Kỳ về
những sự kiện ở trong địa phận Giáo hội Bắc Kỳ từ tháng 10-1788 đến tháng
7-1789. Liên quan đến số lượng quân Thanh, tài liệu nầy gồm hai phần: Thứ
nhất, khi quân Thanh chưa đến, vào ngày 21-10-1788, có lời đồn rằng nhà
Thanh gởi 300,000 quân thủy bộ sang giúp Lê Chiêu Thống. Thứ nh́, Tôn Sĩ
Nghị làm lễ phong vương cho Lê Chiêu Thống (19-12-1788), tức lúc đó quân
Thanh đă vào đất Việt, tài liệu nầy cho biết số quân Thanh là 280,000 người
(28 vạn), một nửa đóng trong thành phố, một nửa đóng ở bên kia sông.
Nếu một
nửa đóng trong thành phố, nghĩa là có 14 vạn quân Thanh trong thành Thăng
Long, th́ thành Thăng Long lúc đó có đủ sức chứa, chỗ ở và nuôi ăn hàng ngày
cho quân Thanh không? Ngoài ra, theo tài liệu Trung Hoa, quân Thanh mất hết
một nửa khi trở về nước, vậy mất hết khoảng 14 vạn (so với 28 vạn khi ra
đi), vừa chết vừa mất tích, trốn chạy th́ con số nầy có thích hợp trong một
cuộc chiến bằng vũ khí chưa tối tân ? Tuy nhiên con số 28 vạn của tài liệu
nầy gần với con số 29 vạn mà Ngô Thời Nhậm đă viết trong " Tờ chiếu phát phối
hàng binh người nội địa ".
Tài liệu Tây phương thứ nh́ do J. Barrow viết. Ông nầy đến nước ta năm 1792, ba năm sau chiến tranh. Trong hồi kư của ḿnh, ông viết rằng số quân Thanh
là 100,000 người.
Tài liệu Tây phương thứ ba của giáo sĩ Pierre-Jacques Lemonnier de la
Bissachère (1764-1830) đến Đàng Ngoài khoảng năm 1790, viết trong hồi kư
xuất bản ở Paris năm 1812 rằng quân Thanh sang Đại Việt khoảng 40,000 người
và bị giết tại trận khoảng 20,000 người. Giáo sĩ De la Bissachère ở lại Đàng
Ngoài cho đến năm 1798, nên có thể ông thu thập được nhiều nguồn tin và
lượng định con số quân Thanh sang nước Việt.
Nói tóm lại tài liệu của giáo sĩ La Bissachère, người có mặt ở Thăng Long
một năm sau trận đánh, phù hợp với số lượng mà chúng ta đă thử cộng lại số
người tối thiểu các cánh quân Trung Hoa theo tài liệu chính sử Trung Hoa.
Con số nầy có thể c̣n cao hơn nữa chút ít, tuy nhiên có thể tạm tin được,
thưa ông Hồng Phúc.
Câu hỏi 13 : Sau cùng xin Gs. cho một lời nhận định tổng quát về thiên tài
quân sự Quang Trung Nguyễn Huệ như thế nào?
Trả lời : Về thiên tài quân sự của vua Quang Trung đă có quá nhiều người
viết. Có người đă viết cả quyển sách dày để ca tụng vua Quang Trung. Ở đây
tôi không làm công việc " khen pḥ mă tốt áo ". Tôi chỉ lưu ư một điểm hơi đặc
biệt nơi
vua Quang Trung. Theo ư kiến của người xưa, một vị tướng giỏi là
một người " trên thông thiên văn, dưới đạt địa lư,
giữa biết nhân ḥa ".
Được
xếp vào hàng tướng lănh tài ba nầy, trước kia có Lư Thường Kiệt ( 1019-1105 )
và Trần Hưng Đạo (1226-1300). Hai vị nầy được ghi nhận là đều học và giỏi về
binh pháp, tức về lư thuyết và đă đem ra thực hành trên chiến trường. C̣n
trường hợp vua Quang Trung rất đặc biệt v́ ông chỉ học với ông Giáo Hiến ở
Quy Nhơn lúc c̣n nhỏ, rồi cùng anh nổi lên khởi nghĩa năm 1771, lúc đó ông
mới 19 tuổi (tuổi ta).
Từ đó, có lẽ do trí thông minh thiên phú, do lăn lộn
trên chiến trường, do sự can đảm tuyệt vời luôn luôn có mặt trước chiến
tuyến, càng ngày thiên tài của vua Quang Trung phát triển và thành công rực
rỡ năm 1789. Biết bao nhiêu sách vở đă ca tụng thiên tài của nhà vua. Tôi
chỉ xin đóng góp một ư kiến nhỏ trên đây mà thôi, v́ pḥ mă đă tốt áo rồi,
khen măi cũng nhàm.
Tuy nhiên, có một điểm cần chú ư là không phải lúc nào nước ta nguy biến,
cũng sẵn có một thiên tài Quang Trung để đánh đuổi ngoại xâm. Do đó, tốt
nhất, bất cứ lúc nào, người Việt chúng ta phải luôn luôn đề pḥng những nhà
lănh đạo Trung Hoa, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay.
Chế độ hiện nay ở
trong nước đang nhờ vă thân thiện với Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, nhưng
chơi dao cũng có ngày đứt tay, huống ǵ là thân thiện với Cộng Sản Trung
Hoa. Mà Cộng Sản Việt Nam đă bị Cộng Sản Trung Hoa làm cho đứt tay nhiều lần rồi. Đó là
chuyện giữa hai đảng Cộng sản với nhau. Chỉ lo là lo cái hiểm họa xâm lăng
của Trung Hoa mà người Việt phải luôn luôn đề pḥng.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại, ông Hồng Phúc đă
phỏng vấn tôi, và xin cảm ơn quư vị thính giả đă theo dơi cuộc phỏng vấn
nầy.
TRẦN GIA PHỤNG.
Nguồn Gốc
| Sáng Lập
|
Chương Tŕnh HL
| HLV
| Sinh Hoạt
Liên Lạc |
Bài
Viết | Nơi Khác |
Trang Chính
| |
Đoàn Vơ Thuật Cổ Truyền Việt Nam
B́nh Định SA LONG
CƯƠNG
tại Austin, TX. HOA KỲ ( 1998 )
|
 |